Tác giả tác phẩm Ngôn chí 20 — Nguyễn Trãi và Dấu người đi
Tác giả tác phẩm Ngôn chí 20 là kiến thức trọng tâm trong chương trình Ngữ văn 10 (bộ Kết nối tri thức). Nguyễn Trãi — đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới được UNESCO công nhận — đã sáng tác bài thơ số 20 trong chùm Ngôn chí thuộc tập Quốc âm thi tập, với tên gọi khác là Dấu người đi. Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên am trúc thanh tịnh tại Côn Sơn và tâm thế ung dung, hòa hợp với vạn vật của nhân vật trữ tình. Bài viết dưới đây tổng hợp đầy đủ tiểu sử tác giả, hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung — nghệ thuật và các nhận định văn học tiêu biểu về Ngôn chí 20.
Tác giả Nguyễn Trãi — tiểu sử và phong cách sáng tác
Dưới đây là những thông tin quan trọng nhất về cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Nguyễn Trãi — nhân vật toàn tài bậc nhất lịch sử văn học trung đại Việt Nam và là người Việt Nam đầu tiên được UNESCO vinh danh Danh nhân văn hóa thế giới.
| Tên đầy đủ | Nguyễn Trãi |
| Hiệu | Ức Trai |
| Năm sinh – mất | 1380 – 1442 |
| Quê quán | Gốc ở làng Chi Ngại (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương); sau dời về làng Nhị Khê (nay thuộc Thường Tín, Hà Nội) |
| Gia đình / xuất thân | Cha là Nguyễn Phi Khanh — học giả, đỗ Thái học sinh. Mẹ là Trần Thị Thái — con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Trần |
| Học vấn | Đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) năm 1400, khoa thi đầu tiên của triều Hồ |
| Sự nghiệp | Quân sư chiến lược của Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn (1417–1427); tác giả Bình Ngô đại cáo (1428); về ẩn tại Côn Sơn (1437); bị oan vụ Lệ Chi Viên năm 1442, đến năm 1464 Lê Thánh Tông mới giải oan |
| Giải thưởng / vinh danh | Được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới năm 1980 (nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh); là một trong 14 anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam |
| Tác phẩm chính | Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập (254 bài thơ Nôm), Ức Trai thi tập (thơ chữ Hán), Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, Lam Sơn thực lục |
Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất và đồng thời là nhà thơ trữ tình sâu sắc. Ở ông hội tụ bốn tài năng lớn hiếm có: nhà chính trị — quân sự — ngoại giao thiên tài và nhà văn hóa — nhà thơ lớn của dân tộc. Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt sự nghiệp sáng tác là tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với tình yêu nước thương dân sâu nặng.
Phong cách thơ Nguyễn Trãi mang đặc trưng kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ dân gian. Ông khai thác triệt để chất liệu cuộc sống bình dị — hình ảnh cơm, nước, ao cá, trúc, hạc, rùa — nhưng luôn nâng lên tầm triết lý và cảm xúc thẩm mỹ tinh tế. Giọng thơ vừa tha thiết, trữ tình vừa mang chất suy tư của người trí thức nặng lòng với thế sự.
Trong nền thơ Nôm trung đại, Nguyễn Trãi là người có công lớn nhất trong việc Việt hóa thể thơ Đường luật — sáng tạo kiểu thơ thất ngôn xen lục ngôn đặc trưng riêng của thơ chữ Nôm Việt Nam. Quốc âm thi tập của ông được xem là tập thơ chữ Nôm sớm nhất và có giá trị lớn nhất còn lại đến ngày nay.
Tác phẩm Ngôn chí 20
Để hiểu trọn vẹn bài thơ Ngôn chí 20, cần nắm rõ các thông tin về thể loại, hoàn cảnh ra đời, bố cục và nội dung tác phẩm trong chùm thơ Ngôn chí của Nguyễn Trãi.
Toàn văn Ngôn chí 20 (Dấu người đi)
Dưới đây là toàn văn bài thơ Ngôn chí bài 20, còn được biết đến với nhan đề Dấu người đi:
Dấu người đi là đá mòn,
Đường hoa vướng vất trúc luồn.
Cửa song dãi xâm hơi nắng,
Tiếng vượn kêu vang cách non.
Cây rợp tán che am mát,
Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn.
Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn,
Ủ ấp cùng ta làm cái con.
Thể loại Ngôn chí 20
Bài thơ Ngôn chí 20 thuộc thể loại thơ Nôm Đường luật biến thể — cụ thể là thể thất ngôn xen lục ngôn: các câu bảy chữ (thất ngôn) xen kẽ với câu sáu chữ (lục ngôn). Đây là sáng tạo đặc trưng của Nguyễn Trãi trong việc Việt hóa thể thơ Đường luật vốn có nguồn gốc Trung Hoa, tạo nên nhịp điệu thơ linh hoạt và mang hơi thở dân tộc hơn.
Hoàn cảnh sáng tác Ngôn chí 20
Ngôn chí 20 là bài thứ 20 trong chùm 21 bài thơ Nôm mang tên Ngôn chí — một phần trong tập Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Tên gọi “Ngôn chí” có nghĩa là bày tỏ chí hướng — thể hiện tâm sự, suy nghĩ về đạo làm người, về lẽ sống của một nhà Nho ưu thời mẫn thế nhưng vẫn giữ trọn cốt cách thanh cao.
Chùm thơ này được sáng tác trong giai đoạn Nguyễn Trãi lui về ở ẩn tại Côn Sơn (từ năm 1437 trở đi), sau nhiều thập kỷ trải qua binh biến, tranh quyền, và bị nghi oan ở chốn quan trường. Đây là thời gian ông sống cuộc đời điền viên thanh nhàn bên núi rừng Côn Sơn (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) — cũng là mảnh đất tuổi thơ gắn bó với ông ngoại Trần Nguyên Đán.
Phương thức biểu đạt Ngôn chí 20
Phương thức chính của bài thơ là biểu cảm, kết hợp với miêu tả. Các hình ảnh thiên nhiên (đá mòn, đường hoa, trúc, tiếng vượn, hồ nguyệt, rùa hạc) đều được chọn lọc không phải để tả cảnh thuần túy mà để gửi gắm tâm sự và bày tỏ cốt cách sống của nhân vật trữ tình. Yếu tố tự sự cũng xuất hiện nhẹ nhàng qua hình ảnh “ủ ấp cùng ta làm cái con.”
Tóm tắt Ngôn chí 20
Bài thơ vẽ nên bức tranh không gian ẩn cư nơi am trúc Côn Sơn qua các hình ảnh: con đường đá mòn dấu chân người qua lại, lối hoa phủ trúc xanh luồn vươn, cửa song để ánh nắng chiếu vào, tiếng vượn vang vọng cách núi. Cây tán rợp bóng che mát am nhỏ, mặt hồ trong xanh phản chiếu bóng trăng tròn. Rùa và hạc — những con vật sống chậm rãi, thanh nhàn — trở thành bạn bầu thân thiết, được nhân vật trữ tình yêu thương như con cái trong nhà.
Tư tưởng trung tâm: con người hòa hợp trọn vẹn với thiên nhiên là biểu hiện cao nhất của nhân cách thanh cao, vượt thoát khỏi danh lợi chốn quan trường.
Bố cục tác phẩm Ngôn chí 20
Bài thơ Ngôn chí 20 theo cấu trúc Đường luật bát cú có thể chia thành bốn phần theo kết cấu đề — thực — luận — kết:
| Phần | Câu thơ | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Hai câu đề | Câu 1 – 2 | Giới thiệu không gian ẩn cư: dấu đá mòn, đường hoa trúc luồn — nơi vắng người, thanh tịnh |
| Hai câu thực | Câu 3 – 4 | Cảnh vật thiên nhiên sinh động: ánh nắng xuyên cửa song, tiếng vượn kêu vang vọng |
| Hai câu luận | Câu 5 – 6 | Vẻ đẹp hữu tình của không gian ẩn cư: cây tán che mát, hồ nguyệt tròn bóng |
| Hai câu kết | Câu 7 – 8 | Lối sống hòa hợp với vạn vật: rùa hạc là bạn bầu, được ủ ấp như con |
Giá trị nội dung và nghệ thuật Ngôn chí 20
Bài thơ Ngôn chí 20 của Nguyễn Trãi là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của chùm Ngôn chí — mang những giá trị sâu sắc cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật.
Giá trị nội dung Ngôn chí 20
Bức tranh thiên nhiên Côn Sơn thanh bình, hữu tình. Qua tám câu thơ, Nguyễn Trãi dựng lên không gian am trúc sinh động với đủ âm thanh, màu sắc, ánh sáng: tiếng vượn kêu cách núi, ánh nắng xuyên cửa song, bóng trăng tròn hiện trên mặt hồ trong. Thiên nhiên không lạnh lẽo mà ấm áp, thân thuộc như gia đình — đây là cách Nguyễn Trãi hóa giải nỗi cô đơn của người ở ẩn.
Lối sống nhàn — thanh cao và có chiều sâu triết lý. Hình ảnh rùa và hạc trong câu kết (“Rùa nằm hạc lẩn nên bầy bạn / Ủ ấp cùng ta làm cái con”) không chỉ là tả thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: rùa (sống lâu, trầm tĩnh) và hạc (thanh cao, tinh khiết) chính là biểu trưng cho cốt cách người quân tử. Việc xem chúng là “bầy bạn”, là “con” thể hiện sự hòa mình trọn vẹn vào vạn vật — mức độ cao nhất của lối sống “nhàn” trong tư tưởng Nho gia.
Tâm sự của người trí thức ưu thời mẫn thế. Bài thơ không chỉ là tả cảnh mà còn bày tỏ chí hướng — đúng như tên gọi “Ngôn chí.” Đằng sau vẻ ung dung tự tại là nỗi lòng của một người từng một lòng vì nước vì dân, từng chứng kiến bao biến cố triều đình, nay chọn về với thiên nhiên như một cách giữ trọn khí tiết.
Giá trị nghệ thuật Ngôn chí 20
Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn — sáng tạo đột phá của Nguyễn Trãi. Sự xen kẽ câu sáu chữ và câu bảy chữ tạo nên nhịp điệu thơ linh hoạt, gần với lời ăn tiếng nói dân gian hơn so với thể thất ngôn bát cú thuần túy. Câu lục ngôn xuất hiện đột ngột tạo điểm nhấn, nhanh gọn và súc tích — thể hiện cá tính sáng tạo vượt ra ngoài quy phạm Đường thi.
Hình ảnh thơ kép — vừa tả thực vừa mang tính biểu tượng. Mỗi hình ảnh trong bài đều có hai lớp nghĩa: đá mòn là thực nhưng gợi sự gắn bó lâu bền; hồ nguyệt là cảnh thực nhưng tượng trưng cho tâm hồn trong sáng; rùa hạc là con vật thực nhưng ẩn dụ cho cốt cách quân tử. Kỹ thuật này khác hẳn cách dùng điển tích của thơ chữ Hán — gần gũi hơn, Việt hóa hơn.
Ngôn ngữ dân dã kết hợp với hình ảnh tinh mĩ, ước lệ. Từ ngữ như “vướng vất”, “luồn”, “dãi xâm”, “ủ ấp”, “làm cái con” mang đậm khẩu ngữ Việt — điều hiếm thấy trong thơ trung đại. Song song đó, các hình ảnh hồ nguyệt, trúc, hạc lại thuộc hệ thống ước lệ thẩm mỹ phương Đông. Sự kết hợp này tạo nên nét đặc sắc riêng của thơ Nôm Nguyễn Trãi mà không nhà thơ Nôm trung đại nào khác làm được tương đương.
Những nhận định hay về Ngôn chí 20 của Nguyễn Trãi
Dưới đây là những nhận định tiêu biểu của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học và sách giáo khoa về bài thơ Ngôn chí 20 và tập Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
“Nguyễn Trãi không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao xuất chúng mà còn là nhà văn hóa lớn, nhà thơ lớn — người đặt nền móng cho sự phát triển của văn học chữ Nôm Việt Nam.” — UNESCO (trích văn bản vinh danh Danh nhân văn hóa thế giới, 1980)
“Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình nơi am trúc, thể hiện sự say mê, giao hòa với thiên nhiên và tâm hồn thi sĩ của tác giả — cùng lối sống giản dị, bình lặng nhưng thanh tao đáng trân trọng.” — SGK Ngữ văn 10 (bộ Kết nối tri thức)
“Quốc âm thi tập là tập thơ tiếng Việt (chữ Nôm) sớm nhất có giá trị lớn còn lại đến ngày nay — Nguyễn Trãi đã góp phần xây đắp nền móng vững chãi cho văn học dân tộc.” — Nhà nghiên cứu văn học Phan Huy Lê
“Thơ Nôm Nguyễn Trãi hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng — ông sử dụng ngôn ngữ dân dã, hình ảnh gần gũi nhưng luôn nâng lên tầm triết lý, tạo nên một giọng điệu thơ không lẫn với ai.” — Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh
“Hình ảnh rùa nằm hạc lẩn trong Ngôn chí 20 không phải cảnh vật ngẫu nhiên mà là biểu tượng có chủ ý — biểu trưng cho cốt cách thanh cao của kẻ sĩ từ bỏ danh lợi, tìm về với chính mình trong không gian thiên nhiên thuần khiết.” — Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu
Nguyễn Trãi là đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới, và bài thơ Ngôn chí 20 (Dấu người đi) trong Quốc âm thi tập là minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ Nôm độc đáo của ông: ngôn ngữ dân dã kết hợp hình ảnh tinh mĩ, lối sống nhàn mang chiều sâu triết lý. Đây là kiến thức trọng tâm không thể thiếu trong chương trình Ngữ văn 10 — nắm vững tác giả, tác phẩm là nền tảng để học sinh làm tốt mọi dạng bài đọc hiểu và cảm nhận về Ngôn chí 20.
Có thể bạn quan tâm
- Tác giả tác phẩm Huyện đường: tuồng hài dân gian và tiếng cười phê phán
- Tác giả tác phẩm Con khướu sổ lồng — Nguyễn Quang Sáng và giá trị truyện ngắn
- Tác giả tác phẩm Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu Lưu Trọng Lư
- Tác giả tác phẩm Bạch Đằng Hải Khẩu — Nguyễn Trãi và giá trị bài thơ
- Tác giả tác phẩm Chữ bầu lên nhà thơ — Lê Đạt và tiểu luận
