Tác giả tác phẩm Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm — tiểu sử và giá trị

Tác giả tác phẩm Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm — tiểu sử và giá trị

Tác giả tác phẩm Đất Nước là kiến thức trọng tâm trong chương trình Ngữ văn 12. Nguyễn Khoa Điềm — nhà thơ tiêu biểu thế hệ kháng chiến chống Mỹ — sáng tác đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng (hoàn thành năm 1971, in năm 1974), với tư tưởng cốt lõi “Đất Nước của Nhân Dân” — một cái nhìn dân chủ và nhân văn chưa từng có trong thơ ca Việt Nam. Bài viết tổng hợp đầy đủ tiểu sử tác giả, hoàn cảnh sáng tác, bố cục, giá trị nội dung — nghệ thuật và những nhận định văn học hay nhất về tác phẩm.

Tác giả Nguyễn Khoa Điềm — tiểu sử và phong cách sáng tác

Dưới đây là những thông tin quan trọng nhất về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm — một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của thơ ca kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tên đầy đủ Nguyễn Khoa Điềm (tên khác: Nguyễn Hải Dương)
Năm sinh 15 tháng 4 năm 1943
Nơi sinh Thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế
Quê quán Làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế
Gia đình / xuất thân Gia đình trí thức giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Cha là nhà báo, nhà cách mạng Hải Triều (tên thật Nguyễn Khoa Văn), dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng
Học vấn Tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964 (cùng lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân)
Sự nghiệp Hoạt động cách mạng tại chiến trường Trị – Thiên; từng bị giam tại nhà lao Thừa Phủ, được giải thoát năm 1968; hội viên Hội Nhà văn VN (1975); Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (1996); Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2001–2006)
Giải thưởng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm); Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng VHNT Cố đô năm 2010
Tác phẩm chính Đất ngoại ô (1972), Cửa thép (1972), Mặt đường khát vọng (1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007)

Thơ Nguyễn Khoa Điềm hấp dẫn bởi sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước và con người Việt Nam. Ông sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian — từ ca dao, tục ngữ, truyền thuyết đến phong tục tập quán — nhưng không trích nguyên mà luôn sáng tạo, chỉ gợi vài từ để người đọc tự liên tưởng. Đây là điểm khác biệt lớn so với cách dùng dân gian trong thơ Tố Hữu hay Nguyễn Đình Thi.

Giọng thơ Nguyễn Khoa Điềm mang tính trữ tình – chính luận: vừa tha thiết, tâm tình như lời thủ thỉ, vừa đậm chất triết lý và tính công dân sâu sắc. Nhà phê bình Vũ Tuấn Anh nhận xét ông có vốn sống già dặn, vốn tri thức phong phú và cảm quan nhạy bén — thơ có những liên tưởng độc đáo, bất ngờ trong cách dẫn dắt và diễn đạt.

Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ chiến trường, cùng với Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh. Điểm riêng biệt của ông là tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” — không chỉ ca ngợi đất nước mà còn khẳng định nhân dân là chủ thể kiến tạo lịch sử, văn hóa dân tộc qua 4000 năm.

Tác phẩm Đất Nước

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…

Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng mình hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn, to lớn

Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…

Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn ngàn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
Những em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu
Ôi những dòng sông bắt nước từ lâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi
Người dạy ta nghèo ăn cháo ăn rau
Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡi
Cái cuốc, con dao, đánh lừa cái tuổi
Chén rượu đánh lừa cơn mỏi, cơn đau
Con nộm nang tre đánh lừa cái chết
Đánh lừa cái rét là ăn miếng trầu
Đánh lừa thuồng luồng xăm mình xăm mặt
Đánh lừa thằng giặc là chuyện Trạng Quỳnh
Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh
Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích
Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật
Biết bao nhiêu hành phúc có trên đời
Dẫu phải khi cay đắng dập vùi
Rằng co Tấm cũng làm về hoàng hậu
Cây khế chua có đại bàng đến đậu
Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta
Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa
Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa
Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!…

Ta lớn lên khao khát những chân trời
Những mảnh đất chân mình chưa bén được
Những biển khới chứa mặt trời đỏ rực
Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh
Ôi có cách gì ta được ngắm những bình minh
Buổi vũ trụ chớp bùng nên sự sống
Và ánh sáng trên chiếc xe vàng chuyển động
Bỗng một ngày ấm áp kể ta nghe
Về những con ngươi của thiên thể xa xôi
Muốn bầu bạn với con người Trái đất
Ôi phút đó ta vùng lên ngây ngất
Muốn ôm choàng hết tất cả trời mây
Trái tim tay nặng trĩu những mê say
Sẽ gieo xuống làm âm vang mặt đất…

Nhưng em ơi, cái điều trông đợi nhất
Vẫn những gì có thể có hôm nay
Từ hôm nay, trên mảnh đất ta đây
Ta nắm nó như sợi mây vững chãi
Rồi rút dần từ cánh rừng vĩ đại
Của cuộc đời hằng nuôi dưỡng chúng ta
Và diệu kỳ thay! Ta bỗng loá bất ngờ
Ta đã thấy cuộc đời vô hạn
Giữa đất đai, nhân dân, bè bạn
Ta tìm ra ánh sáng của Con Người
Những Con Người làm sông núi sáng tươi…

Những địa danh trôi từ thuở xa xôi
Trôi bằng máu và trôi bằng nước mắt
Đã đọng lại thành tên ngươi, tên đất
Bao năm rồi suốt mặt pha, triền sông
Nhưng không có con người nào đã trôi hết sâu nông

Bằng những người dân miền Tây nghèo khổ
Đây không biển thì rừng làm biển cả
Một biển xanh với cồn sóng ngút trời
Họ bám mình vào tấm rẫy nổi trôi
Rồi gục chết dưới màu xanh vĩnh viễn
Cuộc đời họ mênh mang bất định
Chỉ đó nghèo bám riết lấy màu da
Ôi mây trắng ngang đầu, gió dưới rừng xa
Đất Nước ở đâu? Đâu là Đất Nước?
Kờ-ruồng Kù tiệt!
Tiếng suối hay tiếng chim?
Tiếng người hay tiếng chiêng?
Tiếng đá lăn, cây đổ?
Thác gào hay đá nổ?
Kờ-ruồng Kù tiệt!
Kờ-ruồng Kù tiệt!
Đất Nước! Đất Nước!
Đất Nước trên miệng ta rồi
Trong tim ta mang
Trên chân ta bước
Đất Nước! Đất Nước!
Cả núi rừng thét lên đồng loạt!
Đó là năm dưới thời giặc Pháp
Chúng hất hàng chục chòi Ta-ôi ra khỏi bản đồ
Đẩy họ vào những cánh rừng xanh không Tổ quốc
Chính lúc đó
Lửa đã cháy lên!
Lửa ngàn đời từ mỗi bếp cháy lên!
Đốt nhà! Ta đốt hết nhà!
Địu con lên lưng vác giáo lên vai
Đánh trăm chiếc cồng xuyên thủng núi
Mắt người già quắc lên cho đàn trẻ theo
Ta đạp rừng nhằm phía Đông bươn tới!
Ôi ta về nguồn! Về nguồn!
Kờ-ruồng Kù tiệt!
Kờ-ruồng Kù tiệt!
Đất Nước! Đất Nước!
Ôi ta về theo Đất Nước
Ta không chịu làm người dân không Đất Nước
Không Việt Nam
Biển rừng gào lên như muốn níu chân ta
Biển rừng không cuốn ta vào vô định nữa
Ta làm con suối rừng biết tìm sông mà tới
Ta làm con nai biết tìm lối mà về
Mặt trời mọc, mặt trời chỉ hướng
Ôi lòng ta có mặt trời soi sáng
Ta trở về Đất Nước Tổ tiên ơi!…
Và hôm nay
Khi bom thằng Mỹ tới
Cắt ngang những nói nhọn nhà làng
Chôn những nhà mồ vào đất bụi
Ta đánh lên tiếng cồng
Ta gọi vang rừng vang úi
Đất Nước!
Ta đánh lên tiếng chiêng cho cả Bắc Nam cùng nghe được!
Nghe tấm lòng người Tà-ôi, Pa-kô, Cà-tu
Thuỷ chung Đất Nước
Rồi ta quăng cồng dưới suối
Rồi ta chủ chiêng dưới cây
Ta đi
Trong âm vang yêu nước
Ta đi với rựa và tên
Rựa ta mài vào gỗ thành nương
Tên ta gài xuống đất thành bẫy
Thằng Mỹ vào thì xác mà để đấy!
Thằng nguỵ vào thì xác nó đừng chôn!
Cho cháu con ta, ai sau nữa, được nhìn!
Ôi Đất Nước đầu mũi dao
Đất Nước đầu mũi tên
Đất Nước đầu tiếng chiêng
Đất Nước là ngọn lửa
Đất Nước tràn lên từng đỉnh núi
Đất Nước thiêng liêng…

Đêm nay ta lên hết mặt sông Hồng!
Nước đánh động dưới chân ta rồi
Đất Nước
Đang gọi ta từng hồi trống thúc
Đất Nước xoáy nhào tim ta
Ký ức
Đất Nước muôn đời đang vặn mình, đang sôi…

Chúng ta là người dân miền Nam
Nhung tôi biết anh gốc gác họ Hoàng Kinh Bắc
Còn tôi họ Nguyễn tỉnh Đông
Huyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầm
Hôm nay bỗng réo sôi từng hồi từng trận
Khi cơn lũ đang lao qua châu thổ sông Hồng!

Ta lên hết mặt đê sông Hồng!
Dẫu chỉ bằng tâm tưởng
Ở đâu đó ta không còn nhớ nữa
Sao tổ tiên ta cầm cuốc, cầm cày
Cầm giáo, cầm khiên và cất tiếng hát lưu đày
Để xa châu thổ từ độ ấy…

Ôi những gốc tre tổ tiên ta từng thấy
Vẫn còn nguyên trên bờ bãi sông Hồng
Lúa lên xanh trên những cánh đồng
Cũng có tay cha ông in vào trong lúa
Sâu thẳm quá cho đến từng mái rạ
Cũng có dáng một ngày cha ông khăn gói bước ra

Ôi những gì Người đã ước mơ
Thì bây giờ cũng thơm lá thơm hoa
Nên hôm nay chúng ta
Phải lên hết đê sông Hồng mà giữ lấy!

Đất Nước
Phải chặt tre, đóng cọc mà giữ lấy!
Đất Nước
Phải đan phên, đổ đất mà giữ lấy!
Đất Nước
Phải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy!
Đất Nước
Phải neo người xuống sông, chặn nước mà giữ lấy!
Đất Nước
Đất Nước không thể trôi được!
Máu xương, mồ mả tổ tiên đã trôi đi
Những dòng họ đã trôi đi
Nhưng hôm nay không thể nào trôi được!
Đất Nước
Đang gầm lên trong sóng gió ngất trời
Hàng chục triệu thước khối nước đang lao vào mặt đất
Cuộc xáp trận của vật chất muốn đè vật chất
Của thiên nhiên đè xuống con người
Ta vươn mình gánh lấy đất đai
Ta ném máu xương ta vào làm vật cản
Tất cả ý chí và sinh mạng
Phải được vai dựa vào vai, đùi gối lên đùi
Đẩy con đê sông Hồng tiến lên phía trước
Thắng giặc Mỹ hay thắng giặc nước
Đều nhất tề xung phong!

Sơn Tinh đang nhìn ta lo lắng đăm đăm
Cả nhân loại đang nhìn ta cổ vũ
Con cháu ta mai sau hối hả lật từng trang lịch sử
Ngợp trước con đê sông Hồng lên cao, lên cao…
Chào 4000 năm! Con đê như một cánh tay cao
Của thế trận những người làm chủ
Làm chủ cuộc đời và lướt từng đỉnh lũ
Bảo vệ miến Bắc, chi viện miền Nam!

Mẹ Việt Nam ơi!
Đêm nay con về gối đầu trên cánh tay của Mẹ
Ôi cánh tay rắn rỏi, dịu hiền
Lấm láp bùn lầy nhưng ấm áp niềm tin
Đó là hai cánh đê sông Hồng của Mẹ
Mẹ phả vào mặt con nồng nàn mùi sữa
Của những đồng xa nguyên vẹn như mùa
Con đã đi xa từ thuở ấy đến giờ
Nay bọn Mỹ còn cắt chia Đất Nước
Nhưng đêm đêm con trở về thân thuộc
Ngủ trên cánh tay Mẹ hiền từ cay đắng nuôi con
Trong tháng năm chớp bể mưa nguồn
Ru con lớn và làm người thương Mẹ…

Đã có một thời
Ai muốn vào châu Mỹ La-tinh
Đến trước vịnh Ca-ra-ip
Sẽ không cần dùng địa bàn
Cứ nhìn những xác da đen
Trôi bập bềnh trên biển
Những xác da đen chỉ hướng
Đưa anh vào “mảnh vườn sau” của chủ nghĩa thực dân
Đã có một thời
Ai muốn đến Việt Nam
Cứ theo gót những đàn ngựa phương Bắc
Hay chữ thập trên tàu buôn nước Pháp
Các bạn sẽ tìm ra Việt Nam
Bởi vì ngày ấy
Nước chúng tôi chưa có trên bản đồ thế giới
Ngôn ngữ loài người chưa biết hai chữ “Việt Nam”
Và dẫu bạn đến đây
Chỉ có những tên đô hộ phủ toàn quyền
Đứng ra tiếp bạn
Nhưng hôm nay
Bạn hãy đi theo những đoàn đi bộ tuần hành
Mang những lá cờ sao vàng
Ở Pa-ri, ở Mát-xcơ-va hay Xtốc-khôm
Bạn sẽ đến được Việt Nam tôi đó

Bởi vì Việt Nam hôm nay
Nằm giữa lòng thế giới
Nằm trong tim nhân loại
Nằm trên con đường dẫn ta tới giá trị Con Người…
Bởi vì Việt Nam hôm nay
Là Việt Nam chống Mỹ
Chúng tôi gánh trên vai hành trang nặng nề của thế kỷ
Để bạn bình tâm bước vào ngưỡng cửa Tự do…

Bạn đến đây
Đã có Bác Hồ
Và Nhân dân tôi sẵn sàng đón bạn
Dẫu Người đi vắng
Bạn có thể đến nhà Người thăm một khóm hoa
Rồi cùng nhân dân tôi trò chuyện
Nhân dân tôi đẩy tình yêu mến
Đã được Người dặn dò trước phút đi xa…

Bạn hỏi vì sao cúng tôi yêu quý Bác Hồ
Bởi vì Người là Người đầu tiên
Về với Đất Nước chúng tôi
Mang chủ nghĩa Mác-Lê nin
Chứa trong trái tim yêu nước nhất
Khi Người đặt tay lên
Hòn đất Việt Nam đầu biên giới
Thì từ đó
Đất không phải là đất nữa
Đất là chiến hào
Đất là cạm bẫy
Đất là hoa trái
Nuôi chúng tôi, che chúng tôi cầm súng lên đường!

Có Người, chúng tôi có lại Hùng Vương
Có lại dáng búp sen nghìn năm của chùa Một Cột
Và những búp sen miền Nam tận bùn lầy Đồng Tháp
Có Người, cũng đã thành thơ
Có Người, mỗi mũi tên đồng Cổ Loa
Không chịu vùi dưới đất
Không nằm yên trong viện bảo tàng
Chúng bay lên xé gió thời gian
Mở hết đường bay qua thăng trầm lịch sử
Để cắm vào đầu giặc Mỹ!
Có Người, pho Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt
Biết toả hào quang từ hàng chục cánh tay
Có Người, pho Bồ Tát triều Lý chỉ còn đầu
Vẫn nguyên vẹn trong lòng chúng tôi nhờ búi tóc thời vua Hùng để lại
Và pho Kim Cương trên đôi chân vững chãi
Dẫu mất đầu vẫn giữ một dáng đứng Việt Nam
Đấy, Đất Nước chúng tôi đổ vỡ biết bao lần
(Cả những pho từ bi cũng không ngoài hoạn nạn
Nhưng có Người, những cái mất đi phải trả về hình dáng)
Quá khứ được nhìn từ đôi mắt Hôm Nay
Và Hôm Nay từ đôi mắt Ngày Mai
Chúng tôi sống bằng Tương lai một nửa
Bằng tình yêu vô hạn những con người
Như Hôm Nay nhìn Đất Nước cắt đôi
Chúng tôi đã thấy ngày hàn gắn…

Bởi vì Người là người đầu tiên
Yêu miền Nam trong trái tim mình
Yêu tuổi trẻ miền Nam 25 năm
Chưa có được ngày hạnh phúc

Mà Người dạy chúng tôi
Hãy bền gan đánh giặc
Dẫu phải chết cũng không khuất phục:
“Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!”

Chúng tôi là con cháu Bác Hồ
Có nghĩa là chúng tôi giống Bác
Những gì còn non nớt
Chúng tôi học tập để sống, chiến đấu như Người

Bởi vì Người là đất nước của chúng tôi
Mỗi sợi tóc trắng của Người đều ghi ngày gian khổ nhất
Của Đất Nước, những năm dài đánh giặc
Đôi dép của Người mòn vẹt gót
Người đã đi những ngả đường Đất Nước hành quân

Trái cà Người ăn
Cũng là trái cà nuôi người anh hùng đầu tiên – Thánh Gióng
Cây gậy Người cầm
Cũng có thể tìm trong trăm ngàn gậy vượt Trường Sơn
Ý chí của Người
Ý chí toàn dân tộc
Lý tưởng của Người
Sự sống chúng tôi mang…
Hồ Chí Minh – Việt Nam
Bạn và tôi cùng gọi
Hồ Chí Minh – Việt Nam

Em nghe không trái thị đã rơi xuống tay Người
Trái không chỉ rơi vì sức hút đất đai
Trái rơi vì tay Người ao ước
Khi trái chạm vào tay Người và Người ấp ủ
Thì lừng hương tay Người và Người ấp ủ
Thì Lừng hương và cô Tấm bước ra
Đi trả thù và sống Tự do…
Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê ta
Để bùn lấm và thành bùn vạn kiếp
Rơi vào tay Người, đó là định luật
Của đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam

Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng năm
Ta đã lớn rồi, chín đầy hy vọng
Hãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng của nắng
Hỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi..

Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi đừng rơi
Đừng do dự, đừng hoài nghi nữa
Hãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủ
Hãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dân
Nhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùng
Thế vô tận của nghìn năm giết giặc
Lửa đã cháy hồng hào mặt đất
Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù!

– Không bao giờ xương máu phải bơ vơ
Ôi sông núi nghi ngàn dặm đất
Có nghe tiếng chúng con: Xin có mặt
Nguyện làm người xung kích của quê hương
Đây tiếng hát chúng con:
Tiếng hát xuống đường!

Để hiểu trọn vẹn đoạn trích Đất Nước, cần nắm vững các thông tin về thể loại, hoàn cảnh ra đời, bố cục và nội dung cốt lõi của tác phẩm.

Thể loại Đất Nước

Đoạn trích Đất Nước thuộc thể loại trường ca, được viết theo thể thơ tự do với câu thơ dài ngắn linh hoạt, phù hợp mạch cảm xúc suy tưởng triền miên và chiều sâu triết lý của tác phẩm.

Hoàn cảnh sáng tác Đất Nước

Trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành năm 1971 tại chiến khu Trị – Thiên, in lần đầu năm 1974. Tác giả kể lại: ông viết chương Đất Nước trong những ngày mưa triền miên sau Tết, giữa lúc máy bay Mỹ đánh phá dữ dội, phải ngồi trong hầm mà viết — cảm xúc được cộng hưởng bởi tiếng bom, khói mù và mưa rừng.

Tác phẩm ra đời giữa cao trào kháng chiến chống Mỹ, nhằm thức tỉnh tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam, giúp thế hệ trẻ nhận rõ vai trò và trách nhiệm của mình với nhân dân, đất nước. Đoạn trích Đất Nước nằm ở phần đầu chương V của trường ca, gồm 89 câu thơ được đưa vào SGK Ngữ văn 12 (trường ca đầy đủ có 110 câu).

Phương thức biểu đạt Đất Nước

Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là biểu cảm kết hợp nghị luận (chính luận). Ngoài ra, tác phẩm còn sử dụng yếu tố tự sự và miêu tả để dẫn dắt hình tượng đất nước qua chiều dài lịch sử và chiều rộng văn hóa.

Tóm tắt Đất Nước

Đoạn trích cảm nhận về Đất Nước trên nhiều phương diện: lịch sử, văn hóa, địa lý, phong tục. Đất Nước hiện lên từ những điều bình dị gần gũi nhất — cổ tích, ca dao, miếng trầu bà ăn, bờ tóc mẹ bới — rồi mở rộng ra không gian địa lý hùng vĩ và chiều dài thời gian 4000 năm. Tư tưởng xuyên suốt: Đất Nước là của Nhân Dân — được kiến tạo bởi những con người vô danh, bình dị qua bao thế hệ, chứ không phải của triều đại hay anh hùng cá nhân nào.

Bố cục tác phẩm Đất Nước

Đoạn trích Đất Nước được chia thành hai phần lớn theo mạch cảm xúc và tư tưởng của tác giả:

Phần Vị trí Nội dung chính
Phần 1 Từ đầu đến câu “Làm nên Đất Nước muôn đời” (42 câu đầu) Cảm nhận về cội nguồn Đất Nước qua chiều sâu văn hóa dân gian, lịch sử và sự gắn bó với đời sống hằng ngày của mỗi người Việt Nam. Đồng thời nêu trách nhiệm của thế hệ trẻ với Đất Nước.
Phần 2 Từ “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu” đến hết (47 câu còn lại) Tư tưởng cốt lõi “Đất Nước của Nhân Dân” — nhân dân là người đã hóa thân vào địa danh, kiến tạo lịch sử, sản sinh văn hóa và bảo vệ lãnh thổ suốt 4000 năm.

Giá trị nội dung và nghệ thuật Đất Nước

Đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm mang những giá trị sâu sắc và bền vững cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật, xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thơ ca kháng chiến chống Mỹ.

Giá trị nội dung Đất Nước

Cái nhìn toàn vẹn và mới mẻ về Đất Nước. Không như các nhà thơ trước đó gắn Đất Nước với triều đại hay anh hùng, Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận Đất Nước trên nhiều bình diện — lịch sử, địa lý, văn hóa, phong tục — để Đất Nước hiện ra vừa thiêng liêng, lớn lao, vừa gần gũi, thân thiết với từng người: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi / Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể.”

Tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” — đóng góp lớn nhất của tác phẩm. Nguyễn Khoa Điềm khẳng định nhân dân không chỉ là nền mà là chủ thể tạo ra Đất Nước: những con người vô danh đã góp mình vào địa danh, đã làm ra lịch sử bằng chính sự sống và sự hy sinh của họ. Tư tưởng này dân chủ hóa khái niệm Đất Nước, mang ý nghĩa tiến bộ sâu sắc.

Thức tỉnh ý thức trách nhiệm thế hệ trẻ. Bài thơ không chỉ ca ngợi mà còn gửi gắm trách nhiệm: “Em ơi em / Đất Nước là máu xương của mình / Phải biết gắn bó và san sẻ / Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở”. Đây là lời kêu gọi thiết tha với tuổi trẻ miền Nam giữa cao trào kháng chiến chống Mỹ.

Cội nguồn Đất Nước từ chiều sâu văn hóa dân gian. Nguyễn Khoa Điềm trả lời câu hỏi “Đất Nước có từ bao giờ?” không bằng sử liệu mà bằng phong tục — miếng trầu, búi tóc, hạt gạo, cái kèo cái cột — những điều bình dị nhất đã dệt nên hồn dân tộc qua bốn ngàn năm.

Giá trị nghệ thuật Đất Nước

Sử dụng sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian. Đây là đặc sắc nghệ thuật lớn nhất của đoạn trích. Nguyễn Khoa Điềm không trích nguyên ca dao, truyền thuyết mà chỉ gợi vài từ — người đọc tự liên tưởng đến toàn bộ câu ca dao, cả câu chuyện huyền thoại phía sau. Hiệu quả là tạo ra sức gợi lớn, làm giàu thêm hình tượng thơ mà không nặng nề, vụng về.

Giọng thơ trữ tình – chính luận đặc sắc. Toàn bộ đoạn trích được triển khai như một cuộc tâm tình của “anh” với “em” về Đất Nước — vừa tha thiết, tình cảm, vừa mang chiều sâu triết lý. Sự kết hợp này tạo nên sức thuyết phục kép: lay động cảm xúc lẫn khai sáng lý trí người đọc.

Nghệ thuật chiết tự và điệp từ. Việc tách “Đất Nước” thành hai thành tố “Đất” và “Nước” rồi định nghĩa từng thành tố qua hình ảnh cụ thể là sáng tạo độc đáo, chưa có trong thơ Việt Nam trước đó. Cùng với điệp từ “Đất là…”, “Nước là…”, tác giả tạo nên nhịp thơ uyển chuyển và sức liên tưởng mạnh mẽ.

Thể thơ tự do phóng khoáng. Câu thơ dài ngắn linh hoạt theo mạch suy tưởng — không bị ràng buộc bởi vần điệu cố định — giúp tác giả trình bày trọn vẹn những suy nghĩ phức tạp về Đất Nước, điều mà thể lục bát hay thất ngôn không thể làm được ở chiều sâu tương đương.

Những nhận định hay về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

Dưới đây là những nhận định tiêu biểu của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu và chính tác giả — những lời bình giúp học sinh hiểu sâu hơn về giá trị đặc sắc của đoạn trích Đất Nước.

“Chương V — chương Đất nước là một chương lớn. Tôi viết chương này trong những ngày mưa triền miên sau Tết. Đó là thời kỳ máy bay Mỹ đánh phá dữ dội. B52 dội bom liên tục. Chúng tôi ngồi trong hầm và viết, cảm xúc được cộng hưởng bởi tiếng bom nổ, bởi khói bom và mưa rừng.”Nguyễn Khoa Điềm (chia sẻ về hoàn cảnh sáng tác)

“Đất Nước không phải là những gì trừu tượng, xa lạ, lớn lao mà là những gì rất đỗi gần gũi, quen thuộc, gắn bó với đời sống và tinh thần của con người.”Nhận định từ phân tích văn học được nhiều tài liệu giáo dục trích dẫn

“Nếu như trong thơ Nguyễn Đình Thi, hình ảnh đất nước hào hoa, kiêu hãnh, lãng mạn và tràn đầy sức sống thì trong thơ Nguyễn Khoa Điềm hình ảnh đất nước lại giàu có về văn hóa, là sức mạnh của chân lý.”Huy Văn

“Thơ Nguyễn Khoa Điềm chứng tỏ anh có một vốn sống già dặn, một vốn tri thức khá phong phú và một cảm quan nhạy bén. Thơ anh có những liên tưởng độc đáo, những bất ngờ thú vị trong sự dẫn dắt và diễn đạt.”Vũ Tuấn Anh

“Nguyễn Khoa Điềm đặc biệt thành công trong việc sử dụng chất liệu văn hóa, văn học dân gian. Cảm hứng thơ bắt sâu vào cội rễ văn hóa dân tộc, để đất nước trở nên thân thuộc, gần gũi với mỗi người và để câu thơ giàu sức gợi, giàu sức liên tưởng.”Báo Giáo dục và Thời đại

“Tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nói lên những suy nghĩ cảm nhận của tuổi trẻ trong chiến tranh, mà còn là lời kêu gọi thiết tha: hãy yêu đất nước — vì ‘Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình’.”Vũ Quần Phương


Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trí thức tiêu biểu của thế hệ chống Mỹ, và đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng (1971) là tác phẩm kết tinh tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” cùng nghệ thuật trữ tình — chính luận đậm chất văn hóa dân gian. Nắm vững kiến thức về tác giả tác phẩm Đất Nước — từ tiểu sử, hoàn cảnh sáng tác đến giá trị nội dung và nghệ thuật — là nền tảng không thể thiếu để học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi THPT Quốc gia.

Fenwick Trần

Fenwick Trần

Fenwick Trần là tác giả VJOL - Tạp chí Khoa học Việt Nam Trực tuyến. Ông cống hiến cho sứ mệnh lan tỏa tri thức đến cộng đồng học thuật.