Soạn bài Vợ nhặt Kim Lân — đầy đủ, chi tiết nhất
Mục lục
Soạn bài Vợ nhặt (trích) của Kim Lân (1920–2007) giúp học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp trong chương trình Ngữ văn 11 — bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống (Bài 1: Thế giới của truyện ngắn, Tập 1) và trong chương trình Ngữ văn 12 (SGK cũ, tập 2) cũng như các bộ sách mới Cánh diều và Chân trời sáng tạo. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí (1962) — được viết dựa trên cốt truyện cũ Xóm ngụ cư từ trước năm 1945, tái hiện nạn đói khủng khiếp năm 1945 qua tình huống anh Tràng “nhặt” được vợ giữa lúc cái chết cận kề, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp nhân tính — tình người ấm áp, khát vọng sống và niềm tin vào tương lai — của những người nông dân nghèo khổ. Bài viết hướng dẫn trả lời đầy đủ câu hỏi phần Trước khi đọc, Đọc hiểu và Sau khi đọc theo SGK mới.

Trước khi đọc Vợ nhặt
ạn biết gì về nạn đói năm Ất Dậu (1945) xảy ra ở Việt Nam?
Trả lời:
– Nạn đói năm Ất Dậu do thực dân Pháp gây ra diễn ra từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 tại miền Bắc Việt Nam, khiến cho từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.
Câu hỏi 2 (trang 12 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Theo bạn, có phải lúc nào nghịch cảnh trong đời sống (như nạn đói, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh…) cũng chỉ đẩy con người vào tình thế bi quan, tuyệt vọng hay không? Vì sao?
Trả lời:
– Không phải lúc nào nghịch cảnh trong đời sống cũng đẩy con người vào tình thế bi quan, tuyệt vọng… vì chính trong những nghịch cảnh ấy giúp con người tìm thấy chân lí, tìm thấy hướng đi mới cho cuộc sống, biết phấn đấu và nỗ lực hơn …
Đọc hiểu Vợ nhặt
Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc
1. Khung cảnh ngày đói được gợi qua những hình ảnh và cảm giác nào?
– Hình ảnh:
+ Những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ.
+ Người chết như ngả rạ.
+ Sáng nào cũng thấy ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường.
+ Hai bên dãy phố úp súp tối om, người đói đi lại dật dờ như những bóng ma.
– Cảm giác:
+ Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.
+ Tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết.
2. Tâm trạng của Tràng và người “vợ nhặt” được bộc lộ qua những biểu hiện bên ngoài (ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ…) như thế nào?
– Tâm trạng của Tràng:
+ Mặt có vẻ phớn phở khác thường
+ Tủm tỉm cười một mình, hai mắt sáng lên lấp lánh
+ Khi trẻ con chạy ra đón xem, Tràng nghiêm nét mặt, ra hiệu lắc đầu không bằng lòng
+ Bật cười khi bị trêu
– Tâm trạng của thị:
+ Cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách che khuất đi nửa mặt
+ Rón rén, e thẹn
+ Cảm thấy khó chịu khi bị trêu: nhíu đôi lông mày, đưa tay lên xóc xóc tà áo.
3. Người dân trong xóm nghĩ và bàn luận gì khi thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ về nhà?
– Mọi người thở dài và thì thầm.
– Tò mò và hỏi xem người đàn bà là ai: “Ai đây nhỉ?… Hay là người dưới quê bà cụ Tứ mới lên?”
– Dự đoán: “Hay là vợ anh cu Tràng? Ừ khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị ta thèn thẹn hay đáo để.
– Lo ngại cho tương lai của hai người: “Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?
4. Những chi tiết nào thể hiện sự thay đổi trong tâm trạng của Tràng và người “vợ nhặt” khi về đến nhà?
Những chi tiết thể hiện sự thay đổi trong tâm trạng của Trạng và người “vợ nhặt” khi về đến nhà:
– Xăm xăm bước vào trong nhà, nhấc tấm phên rách sang một bên, thu dọn những niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả lên giường, dưới đất.
– Nhìn thị cười, mời ngồi đon đả.
– Loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng, lại chạy vào sân nhìn trộm vào nhà.
– Nghĩ bụng khi thấy thị buồn
– Tủm tỉm cười một mình.
– Không ngờ rằng mình đã có vợ.
5. Chú ý ngôn ngữ và cách ứng xử của người phụ nữ trước khi theo Tràng về nhà.
* Lần thứ nhất:
– Cong cớn “Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?”
– Vùng đứng dậy, cười tít, lại đẩy xe cho Tràng “Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ”
* Lần thứ hai:
– Sưng sỉa trước mặt Tràng: “Điêu người thế mà điêu!”, “Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt”.
– Cong cơn trước mặt hắn: “Có cho ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”
– Khi được mời ăn, thị đon đả “Ăn thật nhá, sợ gì”
– Sà xuống ăn thật, cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền, ăn xong lấy đũa quệt ngang miệng “Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”.
=> Thái độ và ngôn ngữ của thị thể hiện sự lành hanh, ghê gớm. Hoàn cảnh cuộc sống khiến thị mất đi sự dịu dàng vốn có của người phụ nữ.
6. Việc Tràng chấp nhận hành động “theo về” của một người phụ nữ xa lạ thể hiện nét tính cách gì của nhân vật?
– Sự dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.
– Sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng khi đưa ra quyết định lấy vợ.
=> Tràng là một người hiền lành, tốt bụng.
7. Chú ý hình thức lời văn được tác giả sử dụng để thể hiện tâm trạng bà cụ Tứ trong tình huống này.
– “Quái, sao có người đàn bà nào ở trong nhà ấy nhỉ? Người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?”
=> Sử dụng các câu hỏi độc thoại nội tâm.
8. Tình cảm của bà cụ Tứ dành cho người con dâu mới được thể hiện qua giọng điệu và những từ ngữ nào?
Tình cảm bà cụ Tứ dành cho người con dâu mới:
– Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được.
– Các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng.
– Nhà ta thì nghèo con ạ … về sau.
– Con ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.
– Bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót.
– Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá.
=> Bà cụ Tứ hiền lành thấy thương xót, cảm thông cho nàng dâu mới.
9. Khung cảnh ngày mới được cảm nhận chủ yếu từ điểm nhìn nào của nhân vật?
Khung cảnh ngày mới được cảm nhận chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật Tràng.
10. Chú ý những chi tiết miêu tả sự thay đổi của nhân vật bà cụ Tứ và người “vợ nhặt” trong buổi sáng đầu tiên sau khi Tràng nhặt được vợ.
– Bà cụ Tứ:
+ Nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên.
+ Thu dọn, quét tước nhà cửa.
– Người “vợ nhặt:
+ Thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn.
11. Chú ý vai trò của chi tiết nồi chè khoán.
=> “Nồi chè khoán” chỉ là chi tiết nhỏ nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện: trân trọng những giá trị tốt đẹp của con người dù đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, khắc họa sâu sắc hơn tính cách của nhân vật.
12. Tại sao bà cụ Tứ ngoảnh vội ra ngoài, “không dám để con dâu nhìn thấy mình khóc”?
– Bà cụ Tứ ngoảnh vội ra ngoài, “không dám để con dâu nhìn thấy mình khóc” vì: Bà cụ Tứ sợ cái đói, cái nghèo và lo cho tương lai sau này của cả gia đình.
13. Tràng có tâm trạng như thế nào khi nghe câu chuyện người “vợ nhặt” kể?
Tâm trạng của Tràng khi nghe câu chuyện người “vợ nhặt” kể là: Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi, nghĩ đến những người phá kho thóc Nhật và có dự cảm đổi đời.
14. Hình ảnh “lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí của Tràng có ý nghĩa gì?
Hình ảnh lá cờ hiện lên trong đầu Tràng có ý nghĩa:
– Tràng đã bắt đầu mơ hồ tìm thấy con đường đi cho tương lai của mình đồng thời cũng nói lên bước đầu của sự nhận thức, giác ngộ với cách mạng của những người dân trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
– Hình ảnh lá cờ là hình ảnh thực mang ý nghĩa biểu trưng, biểu tượng lớn lao thể hiện giá trị hiện thực khi đề cập đến sự đổi thay của xã hội của số phận con người, đồng thời cũng mang một giá trị nhân đạo sâu sắc, mở ra cho con người một hướng giải quyết mới lạc quan hơn và nhiều hy vọng hơn.
Sau khi đọc Vợ nhặt
Nội dung chính: Truyện ngắn “Vợ Nhặt” của Kim Lân kể về hoàn cảnh thê thảm của người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945, xoay quanh nhân vật anh cu Tràng, người đã bất ngờ “nhặt” được vợ chỉ sau vài câu đùa và bốn bát bánh đúc; truyện khắc họa nghị lực sống, tình người ấm áp và khát vọng hạnh phúc, tương lai tươi sáng của con người ngay trên bờ vực của cái chết, thể hiện qua hình ảnh gia đình Tràng cùng bà mẹ già đón nhận người phụ nữ đói khát làm vợ, làm dâu, và niềm hy vọng vào cách mạng qua hình ảnh lá cờ đỏ cuối truyện.
Vợ nhặt của Kim Lân là kiệt tác của văn xuôi Việt Nam hiện đại — độc đáo ở tình huống truyện éo le, bất ngờ mà đầy nhân văn: giữa nạn đói năm 1945, con người bị đẩy đến bờ vực cái chết nhưng vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn yêu thương đùm bọc nhau. Tác phẩm là trọng tâm trong chương trình Ngữ văn 11 (Kết nối tri thức) và Ngữ văn 12 (Cánh diều, Chân trời sáng tạo và chương trình cũ), thường xuyên xuất hiện trong đề thi học kì và thi tốt nghiệp THPT. Nắm vững nội dung soạn bài sẽ giúp học sinh phân tích sâu giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm, tự tin làm bài thi đạt điểm cao.
Có thể bạn quan tâm
- Tác giả tác phẩm Nữ phóng viên đầu tiên — Trần Nhật Vy và giá trị bài ký sự
- Tác giả tác phẩm Trao duyên — Nguyễn Du, giá trị và nhận định
- Tác giả tác phẩm Bát cháo hành của Thị Nở trong Chí Phèo
- Tác giả tác phẩm Thuyền và biển — Xuân Quỳnh và giá trị bài thơ
- Tác giả tác phẩm Sống, hay không sống – đó là vấn đề
