Soạn bài Thu vịnh Nguyễn Khuyến — đầy đủ, chi tiết nhất

Mục lục

Soạn bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến giúp học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp trong chương trình Ngữ văn 8 — bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống (Bài 2: Vẻ đẹp cổ điển, trang 40–45, Tập 1), đồng thời là văn bản thực hành đọc trong các bộ sách Ngữ văn 10Ngữ văn 11. Thu vịnh là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật viết bằng chữ Nôm, nằm trong chùm thơ thu ba bài nổi tiếng gồm Thu điếu, Thu ẩmThu vịnh của Nguyễn Khuyến — được Xuân Diệu phong là “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”. Bài thơ khắc họa bức tranh mùa thu đồng bằng Bắc Bộ thanh sơ, tĩnh lặng, qua đó thể hiện nỗi u hoài kín đáo và tấm lòng yêu nước thầm lặng của nhà thơ. Bài viết hướng dẫn trả lời đầy đủ câu hỏi phần Trước khi đọc, Đọc hiểu và Sau khi đọc theo SGK mới.

Soạn bài Thu vịnh Nguyễn Khuyến — đầy đủ, chi tiết nhất
Soạn bài Thu vịnh Nguyễn Khuyến — đầy đủ, chi tiết nhất

Trước khi đọc Thu vịnh

  1. Bố cục bốn phần: đề – thực – luận – kết.

– Đề (câu 1,2): bức tranh mùa thu qua hình ảnh trời thu và cần trúc (thời điểm ban trưa).

– Thực (câu 3,4): bức tranh mùa thu qua hình ảnh nước biếc và bóng trăng (thời điểm hoàng hôn và dần chuyển vào đêm).

– Luận (câu 5,6): Hình ảnh hoa và âm thanh tiếng ngỗng mùa thu gián tiếp bộc lộ tâm sự lo lắng thầm kín của tác giả trước cảnh mất nước.

– Kết (Câu 7,8): cảm hứng muốn làm thơ và nỗi tủi thẹn với “ông Đào” của nhà thơ.

Bài thơ cũng có thể được phân theo bố cục bốn câu đầu – bốn câu cuối, trong đó bốn câu đầu chủ yếu tả cảnh mùa thu, bốn câu sau chủ yếu thể hiện tâm tư, tình cảm của tác giả.

  1. – Bài thơ được làm theo luật bằng vần bằng.

– Phân tích luật, niêm, vần, đối của bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường mà bài thơ đã tuân thủ:

LuậtLuật bằng vì tiếng thứ hai của câu 1 là tiếng thanh bằng (thu).
NiêmTiếng thứ hai của câu 1 niêm với tiếng thứ hai của câu 8, tiếng thứ hai của câu 2 niêm với tiếng thứ hai của câu 3, tiếng thứ hai của câu 4 niêm với tiếng thứ hai của câu 5, tiếng thứ hai của câu 6 niêm với tiếng thứ hai của câu 7.
VầnChỉ hiệp theo một vần là vần bằng, gieo ở cuối câu 1 (cao) và các câu chẵn là 4,6,8 (vào – nào – Đào).
ĐốiCâu thứ ba đối với câu thứ tư, câu thư năm đối với câu thứ sáu.
  1. Cảnh mùa thu trong sáu câu thơ đầu được thể hiện qua:

– Từ ngữ: xanh ngắt, tầng cao, lơ phơ, hắt hiu,…

– Hình ảnh: trời thu, cần trúc, nước biếc, song thưa, bóng trăng, hoa,…

→ Bức tranh mùa thu trong sáu câu thơ đầu của bài Thu vịnh là một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng tĩnh lặng; cảnh vật hiện lên trong trẻo, sống động; màu sắc và âm thanh hài hòa, mang nét thanh sơ, dịu nhẹ đặc trung của mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ.

=> Khung cảnh ấy góp phần thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả: Khung cảnh thiên nhiên đẹp nhưng tĩnh lặng góp phần thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên, tâm trạng u buồn man mác, trĩu nặng suy tư về vận nước của người ngắm cảnh.

  1. Trong cặp câu 3 – 4, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ so sánh (nước biếc – tầng khói phủ) để tăng giá trị biểu cảm và biện pháp đối (nước biếc >< song thưa, trông như >< để mặc, tầng khói phủ >< bóng trăng vào) để tạo nhịp điệu cân xứng cho câu thơ.

Trong cặp câu 5 – 6, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ (mấy chùm hoa và một tiếng ngỗng) nhằm nhấn mạnh hình ảnh và phép đối (mấy chìm >< một tiếng, trước giậu >< trên không, hoa năm ngoái >< ngỗng nước nào) để làm tăng giá trị biểu cảm và tạo nhịp cân xứng cho câu thơ.

đ. Bài thơ được ngắt theo nhịp 4/3 (đề, luận) và 2/2/3 (thực, kết). Đây là cách ngắt nhịp truyền thống của thơ thất ngôn bát cú luật Đường.

  1. – Hai câu thơ cuối thể hiện nỗi thẹn với “ông Đào” của Nguyễn Khuyến. “Ông Đào” tức là Đào Tiềm, một danh sĩ đồng thời là một nhà thơ nổi tiếng đời Tấn (Trung Quốc), đã treo ấn từ quan, về sống với ruộng vườn, với cỏ cây, hoa lá để giữ vững khí tiết. Bằng cách sử dụng điển tích này, Nguyễn Khuyến ngầm so sánh mình kém “ông Đào” về tài năng, khí phách và nhân cách. Cụ thể, Nguyễn Khuyến từ quan khi đã 50 tuổi (trễ hơn Đào Tiềm) và ân hận vì mình đã từng tham gia vào guồng máy chính trị thối nát, bạo ngược đương thời. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu “thẹn với ông Đào” là một cách nói bộc lộ tấm lòng yêu nước, nhân cách thanh cao của nhà thơ.

– Cảm xúc ở hai câu này có sự thay đổi so với sáu câu trên: từ say đắm với cảnh sắc mùa thu tươi đẹp; đến tiếc nuối, ngỡ ngàng, lo lắng trước tình cảnh mất nước; nỗi xót xa, tủi thẹn cho bản thân không bằng được với khí phách của “ông Đào”.

  1. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Nỗi buồn của người dân mất nước, sống trong thời thế loạn lạc; cảm giác bất lực vì không thể làm gì cho dân, cho nước; nỗi xót xa, tủi thẹn vì mình không có khí tiết mạnh mẽ và cao cả như ông Đào Tiềm.

Đọc hiểu Thu vịnh

a, Đề: Giới thiệu tổng quát cảnh mùa thu.

Hình ảnh “Trời thu xanh ngắt…”: màu xanh quen thuộc của Nguyễn Khuyến khi tả mùa thu, “mấy tầng cao”: vẽ được cái cao vút, thăm thẳm của khung trời mùa thu. Hình ảnh “cần trúc lơ phơ” tạo nét động cho bức tranh thu. “Hắt hiu”: diễn tả được cái se lạnh của gió mùa thu.

Cách giới thiệu rất khéo và rất đạt.

b, Thực:

Cảnh trăng nước của mùa thu:

Màu sắc (nước biếc) hòa hợp trong tranh của Nguyễn Khuyến. Cách so sánh “trông như tầng khói phủ” làm cho cảnh dịu nhẹ, mờ nhạt. Ta hình dung được mùa thu trong màu biếc lẫn với màu khói. Hình ảnh “Song thưa để mặc ánh trăng vào” quen thuộc mà vẫn nên thơ. Cách nói của Nguyễn Khuyến “để mặc” cho thấy cảnh của ông phóng khoáng, tâm hồn ông rộng mở.

Cảnh đẹp, màu sắc dịu nhẹ. Cảnh cho thấy sự hòa nhập của con người với thiên nhiên. Ta có cảm tưởng Nguyễn Khuyển đang thả mình trong thiên nhiên với làn nước, với ánh trăng.

c, Luận:

Cảnh hoa và tiếng chim (ngỗng) của mùa thu.

Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật hình ảnh “mấy chùm” hoa và “một tiếng” ngỗng. Hình ảnh “hoa năm ngoái” có sức gợi tả mạnh; “hoa năm ngoái” có nghĩa là hoa vẫn là hoa y như năm ngoái (gợi lên cho ta hiểu) mà nước hôm nay thì đã trở thành “nước nào”. Hình ảnh “hoa năm ngoái” làm ta nhớ cách dùng chữ của Nguyễn Du: “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Tiếng ngỗng ở đây, về nghệ thuật, là lấy cái động để diễn tả cái tĩnh.

Nói tóm lại, hai câu luận cũng là tả về mùa thu, nhưng qua cảnh, ta thấy được tâm trạng của nhà thơ, thấy được sự thầm kín của một con người không thể dửng dưng trước cảnh mất nước.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/phan-tich-bai-thu-vinh-cua-nguyen-khuyen-c38a2264.html

Sau khi đọc Thu vịnh

Cảm hứng và nỗi thẹn của nhà thơ.

“Nhân hứng” tức là cái hứng thú trước cảnh đẹp của mùa thu. “Toan cất bút” nghĩa là định làm thơ, cảnh thu đẹp và gợi hứng cho nhà thơ.

“Nghĩ ra” tức là ý thức, là lý trí, là tỉnh. Nguyễn Khuyến rất say mà rất tỉnh. Ông say trước cảnh đẹp của mùa thu, nhưng ông vẫn tỉnh trước lương tâm của mình. Cho nên, ông nói được là thẹn. Nhưng thẹn với ai?

Ông Đào tức là Đào Tiềm, một danh sĩ đồng thời là một nhà thơ nổi từ đời Tấn, đã “dũng thoái” treo ấn từ quan, về sống với ruộng vườn, với hoa cũ được giữ cho được cái khí tiết của mình. Bằng điển tích này, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ “cái tôi” của mình trong cảnh sắc mùa thu một cách khá đậm nét. “Thẹn với “ông Đào” là một cách nói bộc lộ đưực tấm lòng thanh cao của nhà thơ, thể hiện được cái tự hào khiêm tốn của ông trước lương tâm của mình “Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/phan-tich-bai-thu-vinh-cua-nguyen-khuyen-c38a2264.html


Thu vịnh của Nguyễn Khuyến được đánh giá là bài thơ mang cái hồn của mùa thu hơn cả trong chùm thơ thu — với cái thanh, cái trong, cái nhẹ của bầu trời xanh ngắt, nước biếc, hoa năm ngoái và tiếng ngỗng trời xa, đến nỗi nhà thơ “thẹn với ông Đào” vì chưa giữ trọn được khí tiết thanh cao trước thời cuộc. Đây là tác phẩm trọng tâm trong chương trình Ngữ văn 8 (Kết nối tri thức) và thường xuất hiện trong đề thi học kì. Nắm vững nội dung soạn bài sẽ giúp học sinh cảm nhận sâu vẻ đẹp cổ điển của thơ Nôm Đường luật và tự tin phân tích, làm bài thi đạt điểm cao.